Đơn phương chấm dứt hợp đồng: Làm sao cho đúng luật?
Cập nhật: 20/09/2006 8:41:00 SA
Hợp đồng đã ký kết, thậm chí đã được “nhiệt tình” thực hiện nhưng tại sao vẫn bị xem là chưa có hiệu lực? Vì sao có trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng thì được công nhận trong khi trường hợp khác lại phải... bồi thường?
Một số trường hợp sau đây có thể sẽ giúp giải đáp những câu hỏi trên.

Cầm đèn chạy trước ô tô!

Năm 2004, công ty TNHH C ký hợp đồng nhận thầu xây dựng 242 căn hộ cho công ty V trong một dự án đầu tư tại Thủ Đức. Hợp đồng ký xong, bên nhận thầu hớn hở tiến hành ngay các công việc nhằm chuẩn bị cho việc thi công giai đoạn 1 của dự án như xây dựng tiện nghi công trình, dọn dẹp mặt bằng...

Công việc đang tiến triển thì bất ngờ công ty C nhận được yêu cầu của chủ đầu tư đòi phải ngưng ngay việc thi công. Tiếp đó, công ty V thông báo chấm dứt hợp đồng và yêu cầu công ty C phải di dời toàn bộ vật tư, máy móc ra khỏi công trường. Thấy vô lý, công ty C đã khởi kiện ra tòa với yêu cầu V phải bồi thường hơn sáu tỉ đồng do đã tự ý ngưng ngang hợp đồng giữa chừng.

Có vẻ như quá “oan” cho công ty C nhưng qua phân tích của TAND Tp.HCM thì không phải như vậy. Thứ nhất, căn cứ vào thỏa thuận hợp đồng cũng như xác nhận của các bên thì hợp đồng chỉ được tiến hành sau khi chủ đầu tư đã cung cấp cho nhà thầu ba thư bảo lãnh thanh toán với tổng trị giá 3 triệu đô la Mỹ nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng. Ngay công ty C cũng xác nhận rằng nếu không có thư bảo lãnh của ngân hàng thì họ cũng buộc phải chấm dứt thực hiện hợp đồng do rủi ro trong việc thanh toán quá lớn.

Trong khi đó, trên thực tế cho đến thời điểm thực hiện hợp đồng công ty V vẫn chưa cung cấp ba thư bảo lãnh cho công ty C theo mẫu như đã thỏa thuận. Vì vậy, về bản chất, hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu vẫn chưa phát sinh hiệu lực để có thể thực hiện.

Mặt khác, cũng theo thỏa thuận, để hình thành hợp đồng xây dựng thì ngoài hợp đồng đã ký còn phải có các tài liệu quan trọng như danh mục vật liệu, đặc tính kỹ thuật, bản vẽ, phiếu tiên lượng. Tuy nhiên, cho đến lúc xảy ra tranh chấp các tài liệu này vẫn chưa được thiết lập.

Do đó, có thể xác định hợp đồng xây dựng mà các bên đang tranh chấp vẫn chưa thể được coi là đã hình thành và có hiệu lực pháp lý. Điều này cũng có nghĩa không có cơ sở pháp lý để cho rằng công ty V đã vi phạm khi đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Từ lập luận trên, hội đồng xét xử đã tuyên bác phần lớn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều an ủi cho công ty C có lẽ không gì khác là họ có thêm một kinh nghiệm quý giá: đừng bao giờ vội vàng thực hiện khi hợp đồng chưa có hiệu lực và chưa được chuẩn bị đầy đủ.

Vu vơ: giá gần nửa tỉ đồng!

Công ty A, một doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài, ký hợp đồng thuê 23 nhân viên bảo vệ của công ty L. Hợp đồng có thời hạn một năm nhưng vừa mới thực hiện được ba tháng thì có vấn đề. Cho rằng nhân viên bảo vệ thiếu tính chuyên nghiệp nên bên thuê đã gửi thư cho công ty L thông báo chấm dứt hợp đồng.

Tranh chấp sau đó được ra TAND Tp.HCM giải quyết. Rủi cho công ty A là tại phiên xét xử họ đã không trưng ra được bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh công ty L vi phạm hợp đồng về chất lượng dịch vụ hoặc chứng minh có lý do chính đáng khác. Ngay trong hợp đồng, công ty L cũng chỉ cam kết cung cấp dịch vụ bảo vệ chuyên nghiệp mà không hề có cam kết cung cấp dịch vụ có tính chuyên nghiệp cao.

Vì vậy, theo lập luận của tòa, dù công ty L có thừa nhận rằng lực lượng bảo vệ của mình có tính chuyên nghiệp chưa cao nhưng điều đó không có nghĩa là bên cung cấp dịch vụ đã vi phạm hợp đồng. Hơn nữa, ngay tại thời điểm thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng và suốt thời gian sau đó công ty A đã không có văn bản khiếu nại nào về chất lượng dịch vụ bảo vệ và cũng không đưa ra bất cứ lý do nào nhằm giải thích về việc ngưng hợp đồng của mình nhằm lắng nghe ý kiến từ phía công ty L.

Nói một cách khác, quyết định của công ty A là “ngẫu hứng”, vu vơ. Trả giá cho cái sự vu vơ ấy, theo phán quyết của tòa, công ty A phải bồi thường cho công ty L tổng cộng gần 30.000 đô la Mỹ (gần nửa tỉ đồng), tức số tiền tương ứng với phần trị giá hợp đồng của chín tháng còn lại bị chấm dứt thực hiện.

Cháo múc, tiền không trao: hủy!

Cũng liên quan đến việc cung cấp dịch vụ bảo vệ nhưng trong vụ tranh chấp dưới đây, phần thắng lại nghiêng về bên quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Năm 2003, công ty X ký hợp đồng cung ứng dịch bảo vệ cho công ty Y với thời hạn kéo dài trong ba năm (đến năm 2006). Hợp đồng đang “giữa chừng xuân” thì bên thuê có khiếu nại về việc bị mất cắp hàng trong kho. Bên cung cấp dịch vụ bèn đề nghị tạm giữ lại số tiền dịch vụ của hai tháng (thời gian xảy ra mất cắp) để chờ kết luận của cơ quan điều tra.

Tuy nhiên, chờ đến nửa năm sau vẫn không có kết luận của cơ quan điều tra nên công ty X đã yêu cầu công ty Y phải thanh toán số tiền đã tạm giữ nói trên. Do yêu cầu này không được đáp ứng, phía cung cấp dịch vụ đã chấm dứt hợp đồng với công ty Y và khởi kiện vụ việc ra tòa để đòi lại số tiền đã bị tạm giữ. Công ty Y cũng không vừa khi phản tố, đòi X phải bồi thường thiệt hại cho mình do đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn.

Sự việc chỉ ngã ngũ khi vụ việc được TAND Tp.HCM đưa ra phân xử. Tòa cho rằng yêu cầu của nguyên đơn đòi bên Y phải thanh toán ngay số tiền phí dịch vụ còn nợ của bên X là có căn cứ. Cháo múc thì tiền phải trao chứ sao lại để nợ nần, dây dưa?

Mặt khác, theo quy định của pháp luật, thời hạn để cơ quan điều tra giải quyết tố giác hoặc tin báo về tội phạm không được quá hai tháng. Quá thời hạn này cơ quan điều tra không có trả lời thì việc đòi lại tiền phí còn nợ của bên cung cấp dịch vụ là hoàn toàn hợp lý, chính đáng.

Theo nhận định của tòa, việc công ty X chấm dứt hợp đồng do công ty Y không chịu thanh toán tiền phí dịch vụ cũng là chính đáng vì các bên đã có thỏa thuận tại hợp đồng. Do đó, tòa đã bác yêu cầu phản tố của công ty Y.

Đề cập đến vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng trong kinh doanh, thương mại, thẩm phán Nguyễn Công Phú, Phó chánh Tòa Kinh tế Tp.HCM, cho rằng đây là một vấn đề không đơn giản, các bên cần phải hết sức thận trọng. Theo ông Phú, có hai căn cứ để có thể đưa ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng. Một là có xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để chấm dứt thực hiện hợp đồng. Hai là việc chấm dứt đó được pháp luật quy định, cho phép.

“Theo quy định của pháp luật, khi mà một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, nghĩa là vi phạm tới mức mục đích của hợp đồng mà các bên đã ký không thể đạt được, lúc đó bên bị vi phạm mới có quyền quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng. Ví dụ, trong một ngàn cái sản phẩm chỉ có một sản phẩm không đạt chất lượng thì không thể vin vào cớ đó để chấm dứt hợp đồng được”, ông Phú nói.

Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

Đã xem: 2570


Việc làm tại Công ty hàng đầu
Cong ty HB
NIC GROUP
Công ty TNHH Acquy GS Việt Nam
Emirates Jobs
NIC HR
Kết nối số
Công ty Quốc huy
Cong ty moore
Công ty CP Viễn Thông FPT
cong ty Investip